Hướng dẫn cách làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên facebook ?

Hướng dẫn cách làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên facebook ?

Hành vi lừa đảo được xem là hành vi tạo dựng lòng tin, sự tin tưởng thông qua các thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Người bị lừa đảo tài sản có quyền làm đơn tố cáo đến cơ quan chức năng để được giải quyết:

1. Hướng dẫn cách làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên facebook?

Kính chào các Qúy Luật sư Công ty Luật Văn bản Luật pháp, Tôi có vấn đề sau mong các quý luật sư giải đáp giúp tôi: Tôi có quen 1 người bán hàng trên mạng xã hội facebook. Cô ấy năm nay 20t. Cô ấy có giao dịch bán hàng với 1 số bạn ở tỉnh khác thông qua thẻ ngân hàng atm.

Họ chuyển tiền vào tài khoản cô ấy. Cô ấy nhận đươc tiền nhưng không gửi đồ cho họ ( đồ chủ yếu là quần áo ). Có một số người thì cô ấy gửi đồ cho. Còn đa phần là không gửi. Xong cô ấy mất thẻ atm, mượn thẻ atm của bạn thân để tiếp tục hành vi trên. Nếu gộp tất cả những người đã chuyển tiền cho cô ấy mà chưa nhận được hàng thì khoảng 5,6 người. Tổng số tiền lên đến gần 15 triệu. Còn tách ra thì có người 600k, có người 2,3tr…

Vậy, tôi muốn hỏi quý luật sư là những bạn kia có làm đơn tố cáo cô bạn kia về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được không? Cô bạn thân cho mượn thẻ atm có bị liên quan không? Và nếu bị đưa ra pháp luật thì cô bán hàng kia mắc phải những tội gì? Xử lí ra sao. Có 1 chi tiết nữa là gia đình cô bán hàng kia biết chuyện. Nhưng chưa có chi phí để trả nợ cho những bạn khách hàng kia.

Mong quý luật sự tư vấn cho tôi trường hợp này.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người hỏi: Phan Ngoc anh

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về hành vi lừa đảo,: Luật sư tư vấn

Trả lời:

Căn cứ Bộ luật hình sự năm 1999 ; Luật hình sự sửa đổi, bổ sung 2009(văn bản mới nhất: Bộ luật hình sự năm 2015):

“Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Dấu hiệu pháp lý:(Tội) lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi thỏa mãn một trong các dấu hiệu sau:

– Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 2.000.000 đồng trở lên;

– Gây hậu quả nghiêm trọng;

– Đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt;

– Đã bị kết án về tội chiếm đoạt và chưa được xóa án tích.

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gồm hai hành vi khác nhau. Đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt. giữa hai hành vi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối.

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.

Xét về mặt khách quan, hành vi lừa dối là hành vi đưa ra những thông tin giả. Về mặt chủ quan, người phạm tội biết đó là thông tin giả nhưng mong muốn người khác tin đó la sự thật. hành vi lừa dối như vậy có thể được thực hiện qua lời nói, việc xuất trình những giấy tờ sai sự thật hoặc qua những việc làm cụ thể (cân, đong, đo, đếm thiếu).

ở mỗi hình thức như vật người phạm tội có thể có những thủ đoạn thực hiện cụ thể khác nhau. Những thủ đoạn thực hiện cụ thể này không có ý nghĩa về mặt định tội. Đã là hành vi lừa dối thì dù được thực hiện bằng thủ đoạn nào cũng đều có thể là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

hành vi lừa dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt tài sản. Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo có hai hình thức thể hiện cụ thể:

– Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản từ người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản. Khi nhận được tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm chủ được tài sản định chiếm đoạt và người bị lừa dối mất khả năng làm chủ tài sản đó trên thực tế. Tội lừa đảo coi là hoàn thành ở thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

– Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản (nhận thiếu, nhận sai loại tài sản được nhận) hoặc không nhận. Khi người bị lừa dối nhận nhầm hoặc không nhận tài sản cũng là lúc người phạm tội lừa đảo đã làm cho được tài sản bị chiếm đoạt và người bị lừa dối đã mất tài sản đó. Tội phạm coi là hoàn thành từ thời điểm này – thời điểm người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản.

Thông thường hành vi chiếm đoạt tài sản xảy ra kế tiếp ngay sau hành vi lừa dối. Nhưng cũng có trường hợp giữa hau hành vi này có khoảng cách nhất định về thời gian. Ở đây cần chú ý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi hành vi chiếm đoạt xảy ra.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp.

Người phạm tôi biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Theo đó, căn cứ vào những dấu hiệu của “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và những tình tiết bạn đưa ra, những người bị hại có thể thực tố cáo người có hành vi lừa đảo đó tại cơ quan công an nơi người đó đang cư trú. Kèm theo đơn tố cáo là những bằng chứng, chứng cứ chứng minh cho hành vi lừa đảo này.

>> Tham khảo ngay: Mẫu đơn tố cáo

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực hình sự vui lòng trao đổi trực tiếp với đội ngũ Luật sư tư vấnđể được hỗ trợ trực tiếp. Trân trọng cám ơn!

2. Đơn tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản viết như thế nào?

Xin chào luật sư, em mời luật sư xem qua đơn tố cáo của em và em xin có 2 câu hỏi CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc Đồng Tháp, ngày …..tháng……..năm 20… ĐƠN TỐ CÁO (Về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của …………………..) Kính gửi: CÔNG AN PHƯỜNG AN HÒA Họ và tên tôi: Sinh ngày: 20/8/1992 Chứng minh nhân dân số: Ngày cấp: Nơi cấp: Công an tỉnh Đồng Tháp. Hộ khẩu thường trú: Tân Khánh, Tân Thành, Lai Vung, Đồng Tháp.

Chỗ ở hiện tại: Tôi làm đơn này tố cáo và đề nghị Quý cơ quan tiến hành điều tra, khởi tố hình sự đối với hành vi vi phạm pháp luật của: Anh: ………………………………………………..Sinh ngày:……………………..

Chứng minh nhân dân số: …………. Ngày cấp:…………………Nơi cấp: ………

Hộ khẩu thường trú: …………………………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại: …………………………………………………………………………

Vì anh ………………………….. đã có hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của tôi là một chiếc nhẫn vàng 18k trị giá 1,8 chỉ. Sự việc cụ thể như sau: Tôi được biết anh Ân thông qua một người bạn tên Phương, do vậy tôi có đến nhà trọ của anh Ân hai lần. Vào 10 giờ, ngày 27/3/2016, tôi có đến phòng trọ của anh Ân, tại địa chỉ………………………………………………………………………………………, theo lời mời của anh.

Khi tôi đến phòng thì có anh Ân cùng vợ và anh vợ của Ân và hai người bạn khác đang ngồi nhậu. Tôi ngồi xuống uống cùng được một lúc thì anh Ân thấy tôi có đeo một chiếc nhẫn vàng 18k, nên anh Ân khen nhẫn đẹp và có ý hỏi mượn để đeo một lúc. Tôi cũng chấp nhận vì nghĩ có nhiều người thấy và anh Ân còn thốt lên với mọi người đây là nhẫn mượn. Nhậu xong mọi người ra về còn anh Ân, tôi và anh vợ của Ân, nên rũ nhau đi chơi bi-a, lúc này dù tôi có rượu trong người nhưng vẫn tỉnh táo để gợi ý lấy lại chiếc nhẫn, nhưng anh Ân nói: “mầy không tin tao hả, anh em gì mà không tin tao?”. Thấy vậy, tôi cũng để anh Ân đeo nhẫn vì tôi nghĩ ai cũng có rượu trong người nên không muốn cải vả, về nhà trọ có mọi người mình lấy lại cũng được. Chơi bi-a xong, anh Ân tiếp tục rủ tôi đi hát karaoke tại một quán trên đường 3/2, phường Hưng Lợi, quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ. Đến 18 giờ cùng ngày, Do chi phí hát karaoke khá lớn nên khi đến lúc thanh toán thì không ai còn đủ tiền để trả nên anh Ân nói: “để tao về nhà lấy tiền, mầy tin tao thì ở lại đây đợi”. Khi đó anh Ân cùng người anh vợ nhanh chóng lên xe về tới nhà, tôi thì ở lại đợi rất lâu và gọi điện thoại cho anh Ân thì không trả lời, anh Ân chỉ bắt máy và giả vờ như không nghe tôi nói gì. Thấy vậy tôi đành bỏ xe thế chấp cho quán karaoke và gọi điện thoại nhờ người bạn đến và đưa tôi gặp anh Ân. Đến nơi tôi yêu cầu anh Ân đưa tiền để tôi trả chi phí hát karaoke nhưng anh Ân nói không có và nói với tôi chi trả hết sau này sẽ trả lại từ từ. Tôi tiếp tục yêu cầu anh Ân trả chiếc nhẫn vàng lại cho tôi thì anh Ân trả lời đã đưa cho tôi rồi.

Xem thêm:  Không thực hiện hành vi giao cấu có phạm tôi hiếp dâm không?

Tôi như vừa bị sét đánh trúng, mắt tối sầm lại, vì không ngờ anh Ân lại dối trá trắng trợn như vậy. Lúc này tôi mới nhận ra rằng toàn bộ sự việc đều do anh Ân sắp đặt, đưa tôi đi chơi rồi buộc tôi trả tiền chi phí một cách gian dối và đã có ý chiếm đoạt chiếc nhẫn của tôi từ trước. Vài ngày sau tôi tiếp tục tìm gặp thì anh Ân có chi trả với tôi phí karaoke, và hứa sẽ làm từ từ và mua lại chiếc nhẫn khác đền cho tôi. Thấy vậy, tôi cũng chấp nhận vì nhận thấy vợ anh Ân vừa sinh con nên tôi không muốn gây khó khăn, mặc khác anh Ân cũng đã có lời hứa với tôi. Cho đến những ngày gần đây, tôi khó liên lạc với anh Ân, gọi điện thoại thì không ai trả lời, tôi vượt đường xá xôi đến tận phòng trọ cũng không gặp. Tôi nghĩ anh Ân đang cố tình trốn tránh. Từ những sự việc trên, có thể khẳng định anh Ân đã dùng thủ đoạn gian dối khi tạo cho tôi sự tin tưởng nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của tôi. Qua thủ đoạn và hành vi như trên, anh Ân đã chiếm đoạt chếc nhẫn vàng 18k 1,8 chỉ của tôi. Tôi cho rằng hành vi của anh Ân có dấu hiệu phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” – qui định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Theo đó, người nào có “thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng, hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm” thì phạm tội này. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nay tôi viết đơn này tố cáo anh Ân. Kính đề nghị Quí cơ quan giải quyết cho những yêu cầu sau đây: – Xác minh và khởi tố vụ án hình sự để điều tra, đưa ra truy tố, xét xử anh Ân về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. – Buộc anh Ân phải trả lại chiếc nhẫn vàng 18k 1,8 chỉ cho tôi. Tôi cam kết toàn bộ nội dung đã trình bày trên là hoàn toàn đúng sự thật và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những điều trình bày trên. Kính mong được xem xét và giải quyết. Xin chân thành cảm ơn.

Vậy em xin luật sư tư vấn:

1. Theo nội dung sự việc như trên, em có thể tiến hành tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hay không?

2. Khi xảy ra sự việc thì em trình đơn này cho Công An phường nơi đối tượng sinh sống, như vậy đúng hay không?

3. Lá đơn này có chỗ nào sai hay thiếu sót mong cô chú, anh chị giúp em.

Em xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Văn bản Luật pháp. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1.Theo nội dung sự việc như trên, em có thể tiến hành tố cáo tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hay không?

Theo khoản 1 điều 139 Bộ luật Hình sự 1999sửa đổi bổ sung 2009 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Dấu hiệu kết tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

+cần dựa vào giá trị của tài sản, vậy nếu tài sản của bạn từ 2 triệu trở lên thì hành vi của anh Ân có dấu hiệu của tội này.

+ sử dụng thủ đoạn gian dối: Ở đây anh Ân có hành vi nói dối mượn chiếc nhẫn đó và sẽ trả

Vậy nếu đảm bảo 2 điều kiện trên thì anh Ân hoàn toàn có thế bị kết tôi lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật.

2. Khi xảy ra sự việc thì em trình đơn này cho Công An phường nơi đối tượng sinh sống, như vậy đúng hay không?

Theo điều 101 Bộ luật hình sự quy định

Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm.

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Bạn có thể nộp tại nơi đối tượng sinh sống hoặc tại nơi xẩy ra hành vi lừa đảo hoặc tại Cơ quan điều tra, Viện kiểm sat, tòa án theo quy định pháp luật

3. Lá đơn này có chỗ nào sai hay thiếu sót

Mẫu đơn tố cáo bạn có thể tham khảo thêm tại đây Mẫu đơn tố cáo cập nhật mới nhất hiện nay

Bạn nên ghi thêm trị giá của chiếc nhẫn đó bao nhiêu tiền vì đó cũng là một điều kiện để kết tội.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7: Luật sư tư vấn hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Văn bản Luật pháp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết đơn tố cáo tội lừa đảo?

Thưa luật sư! Em và anh A quen biết nhau sau một thời gian đã tạo được niềm tin từ em. Anh A nói anh đang cần tiền để làm ăn, rồi mẹ anh bị té, và anh lái xe gây tai nạn nên. Em đã cho anh A mượn tiền. Và hứa cuối tháng 7/2016,trả tiền nhưng tới hẹn không trả, gần đây thì anh ta không còn liên lạc với em nữa. Em có gọi điện thì tắt máy, một thời gian thì anh A bỏ sô điện thoại luôn.

Em đã tới công an phường nơi em tạm trú trình báo và được hướng dẫn:đây là vụ án dân sự nên bảo em lên tòa án huyện trình báo và em đã tới tòa án trình báo nhưng bên tòa ań hướng dẫn em phải tới nơi anh A đang cứ trú để trình báo và phải có địa chỉ cụ thể nhưng theo em biết thì anh A đã chuyển chỗ ở em chỉ biết là đang ở biên hòa chứ không rõ địa chỉ.Em có địa chỉ nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và số tài khoản của anh A,thẻ ATM của anh A thôi.khi chuyển tiền thì chuyển qua số tài khoản và tiền mặt.Em còn lưu lại tin nhắn và thông tin chuyển khoản. Vậy thưa luật sư em muốn tố cáo anh A thì phải tới đâu để trình báo. Và chứng cứ thông tin chuyển khoản và tin nhắn có thể làm chứng cứ để tố cáo anh A hay không?

Mong được sự tư vấn của luật sư.Em xin cảm ơn nhiều ạ.

Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến: Luật sư tư vấn

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, việc anh A vay tiền bạn và có những hành vi khi bạn gọi thì tắt máy, rồi thay số điệ thoại để cắt đứt liên lạc, ở đây hành vi của anh A đã cấu thành nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hộinhư sau:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;-

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đếnhai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự 2003thì:

Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”

Do vậy, trong trường hợp này bạn có thể tố giác hành vi lừa đảo chiểm đoạt tài sản của anh A tới Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì tội phạm xảy ra ở đâu thì cơ quan điều tra ở đó có quyền giải quyết. Đối với tội lừa đảo chiếm doạt tài sản thì nơi giao nhận tiền là nơi phạm tội. Vì vậy, bạn có thể trình báo tới công an nơi bạn giao tiền để được xem xét, giải quyết theo pháp luật.

Xem thêm:  Sử dụng máy quay, máy ghi hình khi hỏi cung - một số vấn đề cần bàn luận

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấnhoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Văn bản Luật pháp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Tư vấn thủ tục làm đơn tố cáo tội danh lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Kính chào luật sư. Tôi có một việc xin phép nhận được sự tư vấn từ luật sư Tôi có quen một người bạn, tháng 12/2014 có nhờ tôi vay một khoản tiền có giá trị là 35 triệu để lo công việc ( gần như là chạy án).

Mọi giao dịch chuyển tiền vay đều thông qua hình thức chuyển khoản ngân hàng và tin nhắn, không có hợp đồng hay giấy tờ vay mượn. Trong tin nhắn trao đổi thảo luận thì có hẹn 1 tháng sau sẽ trả lại tiền, nhưng đến thời điểm hiện tại 7 tháng trôi qua vẫn chưa thực hiện trả tiền và tôi cũng không thể liên lạc được qua số điện thoại. Trong trường hợp tôi đến nhà nhưng vẫn không tìm được thì tôi có thể làm đơn tố cáo người bạn này về hành vi chiếm đoạt tài sản không? Và nếu làm đơn tố cáo thì tôi cần chuẩn bị những thủ tục thế nào? Và tôi muốn hỏi thêm nếu làm đơn tố cáo thì có liên quan đến việc trước đây của người bạn này và trong đơn tố cáo tôi có cần phải nêu rõ lí do vay tiền không ạ?

Tôi xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến,: Luật sư tư vấn

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Văn bản Luật pháp, căn cứ vào những thông tin bạn cung cấp xin được tư vấn cho bạn như sau:

Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 thì:

Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

Theo quy định trên của pháp luật thì người bạn kia có thể phạm tội theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự

Theo quy định tại Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2003 thì:

Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.

Như vậy, bạn có thể gửi đơn tố giác về hành vi phạm tội của người bạn kia đến các cơ quan quy định tại Điều 101 Bộ luật tố tụng hình sự, sau đó, các cơ quan chức năng sẽ có nhiệm vụ điều tra, truy tố, khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự:

Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.

Như vậy, bạn có thể làm đơn tố giác người bạn kia về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mọi thủ tục tiếp theo các cơ quan chức năng sẽ có nhiệm vụ điểu tra, xác minh vụ việc, trong đơn tố giác bạn không cần nếu lý do người bạn kia nhờ vay tiền hộ.

5. Tư vấn về việc xử lý đối với đơn tố cáo nặc danh?

Thưa luật sự, mẹ của em hiện nay là Hiệu Trưởng của một trường tiểu học. Cách đây 3 năm, có 1 giáo viên được phân công về trường giảng dạy, Giáo viên này đã tuyên bố một câu với mẹ em là “tôi sẽ cho chị lên bờ xuống ruộng”. Đến nay, sau 3 năm, giáo viên đó đã chuyển trường. Tuy nhiên, bây giờ liên tục có những đơn tố cáo về phòng Giáo dục và Sở Giáo dục vu khống mẹ em trong thời gian gần đây. Mẹ em và toàn thể giáo viên trong trường đều biết là giáo viên kia vu khống bởi lẽ đơn vu khống không ghi họ tên đầy đủ, nạp danh, lấy những phụ huynh đã chuyển trường, chuyển nơi ở chỗ khác để viết đơn nhằm mục đích muốn cho mẹ em bị kỉ luật và ra khỏi ngành.

Xem thêm:  Tư vấn về tình tiết giảm nhẹ hành phạt tội mua bán trái phép chất ma túy ?

Và cách đây 3 năm, thời gian giáo viên đó còn đang giảng dạy, đã có những tin nhắn xúc phạm mẹ em, và thậm chí đòi hăm dọa em (năm đó em học lớp 12 và hiện nay là sinh viên năm 3). Vì là đơn nạp danh nên các thanh tra của Giáo dục đã về điều tra, giáo viên kia đã liên kết với một người khác, không nằm trong trường mà chỉ là một người có chức vụ bên thôn mà có cụm trường của mẹ em (tức là trường mẹ em có 2 cụm trường, 1 là cụm chính, 2 là cụm tại thôn dân tộc), người đó báo cáo với thanh tra một đường, nói với mẹ em một nẻo. Vậy luật sư cho em hỏi giờ mẹ em phải làm gì để chấm dứt chuyện này ạ. Vì chỉ còn 2 năm nữa mẹ em về hưu, nhưng sự việc cứ tiếp tục như vậy mẹ em không thể nào làm việc được.?

Em xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hành chính về soạn đơn nặc danh: Luật sư tư vấn

Trả lời:

Theo khoản 2b Điều 20 Luật tố cáo năm 2011

Điều 20. Tiếp nhận, xử lý thông tin tố cáo

2. Người có thẩm quyền không thụ lý giải quyết tố cáo trong các trường hợp sau đây:

b) Tố cáo về vụ việc mà nội dung và những thông tin người tố cáo cung cấp không có cơ sở để xác định người vi phạm, hành vi vi phạm pháp luật;

Tuy nhiên theo Điều 19 Thông tư 07/2014 Quy trình xử lý đơn khiếu nại,đơn tố cáo,đơn kiến nghi,phản ánh:

Điều 19 Đơn tố cáo không rõ họ tên,địa chỉ người tố cáo nhưng có nội dung rõ ràng, kèm theo các thông tin, tài liệu, bằng chứng về hành vi tham những,hành vi tội phạm

Khi nhận được đơn tố cáo không rõ họ tên, địa chỉ người tố cáo nhưng có nội dung rõ ràng, kèm theo các thông tin, tài liệu, bằng chứng chứng minh nội dung tố cáo hành vi tham nhũng, hành vi tội phạm thì người xử lý đơn báo cáo thủ trưởng cơ quan, tổ chức, đơn vị xử lý theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, pháp luật tố tụng hình sự.

Như vậy, các cơ quan nhà nước cần xem xét, xử lý thận trọng đối với những đơn thư không rõ họ tên, địa chỉ, đặc biệt là phải căn cứ vào nội dung đơn và những bằng chứng được người Tố cáo đưa ra để quyết định có tiến hành thẩm tra xác minh hay không.

Trong trường hợp của bạn đưa ra mẹ bạn thường xuyên bị gửi đơn tố cáo nặc danh, nhằm vu khống mẹ bạn.Nếu mẹ bạn có chứng cứ rằng người đó đã viết đơn tố cáo hoặc mẹ bạn có chứng cư rằng người đó đã dùng họ tên của người khác trái phép để tố cáo mẹ bạn thì mẹ bạn có thể viết đơn tố cáo trở lại người đó

Điều 8 khoản 10 Luật tố cáo 2011 thì hành vi tố cáo của người đó vi phạm pháp luật tố cáo cụ thể là:

Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm

10. Cố ý tố cáo sai sự thật; kích động, cưỡng ép, dụ dỗ, mua chuộc người khác tố cáo sai sự thật; mạo danh người khác để tố cáo.

Mẹ của bạn có thể viết đơn tố cáo cộng với các bằng chứng chứng minh đến cơ quan có thẩm quyền là ủy ban nhân dân dân xã, để được UBND xã giải quyết kịp thời.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7: Luật sư tư vấn hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Văn bản Luật pháp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

6. Giả mạo chữ ký để viết đơn tố cáo xử lý như thế nào?

Luật sư tư vấn:

Giả mạo chữ ký là hành vi vi phạm pháp luật, tùy vào mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra thì người giả mạo chữ ký có thể bị chịu trách nhiệm hình sự.

Tại Điều 284 Bộ luật hình sự 1999 có quy định như sau:

Điều 284. Tội giả mạo trong công tác

1. Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:

a) Sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu;

b) Làm, cấp giấy tờ giả;

c) Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Người phạm tội là người có trách nhiệm lập hoặc cấp các giấy tờ, tài liệu;

c) Phạm tội nhiều lần;

d) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm.

5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.

Chủ thể của tội phạm:

– Điều kiện về độ tuổi: người từ đủ 16 tuổi trở lên

Chủ thể của tội này là người có chức vụ, quyền hạn. Những người không có chức vụ, quyền hạn cũng có thể là chủ thể của tội phạm nhưng họ chỉ có thể là người tổ chức, người xúi dục, người giúp sức còn người thực hành nhất thiết phải là người có chức vụ, quyền hạn.

Khách thể của tội phạm:

Khách thể của tội giả mạo trong công tác là hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, tính xác thực của các loại giấy tờ tài liệu của cơ quan tổ chức; làm cho cơ quan, tổ chức bị suy yếu, mất uy tín, gây thiệt hại cho lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Đối tượng tác động của tội giả mạo trong công tác là giấy tờ, tài liệu, chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn. Người phạm tội đã tác động vào làm cho các tài liệu, giấy tờ, chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn bị sai lệch, không đúng với thực tế.

Mặt khách quan của tội phạm:

– Hành vi khách quan

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn, nếu họ không có chức vụ, quyền hạn đó thì họ khó có thể thực hiện việc giả mạo trong công tác; chức vụ, quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện một trong các hành vi:

Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn: Giả mạo chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn là hành vi ký giả hoặc bằng những thủ đoạn khác như: in, photocopy… chữ ký của người có chức vụ, quyền hạn.

– Hậu quả:

Hậu quả của tội giả mạo trong công tác là những thiệt hại vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội. Tuy nhiên Hậu quả của hành vi giả mạo trong công tác không phải là dấu hiệu bắt buộc, tức là, dù hậu quả chưa xảy ra nhưng hành vi vẫn cấu thành tội phạm.

Mặt chủ quan của tội phạm

– Yếu tố lỗi: Tội giả mạo trong công tác được thực hiện với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp); tức là: người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

– Động cơ phạm tội là cái bên trong thuộc mặt chủ quan của tội phạm và người phạm tội không bao giờ thừa nhận nếu không có căn cứ ; là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, nếu người phạm tội có các hành vi khách quan nêu ở trên nhưng không vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác thì hành vi giả mạo trong công tác chưa cấu thành tội phạm.

Theo thông tin bạn trình bày nhà bạn có kinh doanh mặt hàng đồng nát,và có xay nhựa. Trong quá trình xay nhựa có xả nước thải, tuy nhiên nhà bạn đã có giấy về vệ sinh môi trường. Hiện nay, tại nơi bạn đang sinh sống, có người đang làm đơn kiện gia đình bạn.Trong đơn tố cáo, các hộ gia đình xung quanh có kí vào đơn kiện gia đình bạn, nhưng mà trong đơn tố cáo đó các chữ kí lại giống nhau và có nhiều chữ kí không phải là của hộ gia đình xung quanh kí, mà do những người làm đơn tự kí vào, bạn cho rằng người làm đơn giả mạo chữ ký của các gia đình khác ký vào đơn để kiện nhà bạn. Căn cứ theo các quy định trên thì việc giả mạo chữ ký người khác có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc người thực hiện hành vi giả mạo chữ ký có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên việc xem xét rằng người thực hiện giả mạo chữ ký bị xử phạt vi phạm hành chính hay phải chịu trách nhiệm hình sự cần dựa vào mục đích của người thực hiện hành vi giả mạo. Đối với trường hợp của bạn nếu bạn có căn cứ cho rằng người làm đơn khởi kiện gia đình bạn mà giả chữ ký của những gia đình khác làm đơn khởi kiện gia đình bạn vì động cơ cá nhân và làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của gia đình bạn thì bạn có thể làm đơn trình báo và gửi đến Ủy ban nhân dân xã để được xem xét và giải quyết.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự – Văn bản Luật pháp

Luật sư Trần Gia và Cộng sự

Từ khóa tìm kiếm

  • cach lam đơn báo viec bị chiếm đoạttài sản
DMCA.com Protection Status